Trong giai đoạn ương giống, cá rô phi có nhu cầu đạm cao hơn cá trưởng thành để hình thành cơ, xương và tăng trưởng nhanh. Hàm lượng đạm thích hợp cho cá từ 35 – 45%, kèm theo vitamin C, vitamin nhóm B và khoáng vi lượng (Ca, P, Mg) giúp cá khỏe mạnh, bơi linh hoạt và chống stress. Nếu thiếu khoáng hoặc vitamin, cá dễ cong thân, bụng lép và lớn chậm.
Từ 0 – 7 ngày tuổi, cá chủ yếu sử dụng thức ăn tự nhiên kích thước nhỏ như trùng cỏ, ấu trùng phù du. Đến tuần 2 – 3, cá phát triển nhanh, miệng rộng hơn, bắt đầu ăn tảo, trùn chỉ và thức ăn công nghiệp nghiền mịn. Từ 21 – 30 ngày, cá cần nhiều năng lượng và đạm để đạt kích cỡ giống, vì vậy cần kết hợp cả thức ăn tự nhiên và thức ăn viên.
Thức ăn tự nhiên như tảo, phiêu sinh, trùng chỉ cung cấp đạm dễ tiêu hóa và giúp cá phát triển hệ tiêu hóa hoàn chỉnh. Đây cũng là nguồn dinh dưỡng rẻ, có lợi cho ao ương nhờ giữ màu nước ổn định, hạn chế cá bị đầy ruột hoặc chết đột ngột. Ao ương có nhiều thức ăn tự nhiên giúp cá khỏe, tỷ lệ sống cao và giảm chi phí thức ăn công nghiệp.
Ở giai đoạn này, cá vừa tiêu noãn hoàng nên chỉ ăn được sinh vật phù du cực nhỏ như trùng cỏ, Rotifer, ấu trùng Moina. Đây là nhóm thức ăn giàu đạm, kích thước phù hợp và dễ tiêu. Nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào giúp cá bột bơi nhanh, khỏe và đồng đều kích thước.
Khi cá đã lớn hơn, miệng và hệ tiêu hóa phát triển đủ để ăn tảo, Moina trưởng thành, trùn chỉ, bobo và thức ăn công nghiệp dạng bột mịn có hàm lượng đạm 40 – 45%. Đây là giai đoạn tăng trưởng mạnh, vì vậy cần duy trì nguồn thức ăn tự nhiên trong ao và kết hợp cho ăn thức ăn chế biến.
Ở giai đoạn cuối ương, cá rô phi thích ăn trùn chỉ, tảo, thức ăn công nghiệp dạng mảnh hoặc viên nhỏ có đạm 35 – 40%. Mục tiêu là giúp cá đạt trọng lượng đồng đều, ruột khỏe và thích nghi tốt với môi trường nuôi thương phẩm. Khẩu phần ăn cần tăng dần theo trọng lượng cá và chia 3 – 4 lần/ngày.
Cá rô phi giống nên được cho ăn 3 – 5 lần/ngày tùy theo tuổi. Cá bột ăn ít nhưng cần nhiều lần, còn cá 21 – 30 ngày có thể giảm tần suất. Cho ăn vào sáng sớm và chiều mát giúp cá hấp thu tốt hơn. Lượng ăn cần dựa vào trọng lượng đàn cá, thường từ 5 – 15% trọng lượng thân/ngày.
Nếu cá ăn nhanh, hoạt động mạnh, đáy sàn ăn sạch sau 10 – 15 phút chứng tỏ lượng ăn phù hợp. Ngược lại, nếu dư thức ăn hoặc cá bơi lờ đờ, cần giảm khẩu phần. Dư thừa thức ăn dễ gây đục nước, làm giảm oxy và xuất hiện khí độc, khiến cá chết rải rác.
Nhiều hộ nuôi cho ăn quá nhiều hoặc chọn thức ăn kích thước quá lớn khiến cá khó tiêu, dễ mắc bệnh đường ruột. Một số ao ương không duy trì được màu nước nên cá thiếu thức ăn tự nhiên, lớn chậm. Cho ăn vào buổi trưa nắng gắt cũng gây stress, giảm tỉ lệ sống.
Tảo và phiêu sinh là nguồn thức ăn tự nhiên giàu đạm, khoáng và vitamin, giúp cá tiêu hóa tốt và tăng trưởng nhanh. Trùn chỉ cung cấp lượng đạm cao, rất phù hợp cho cá từ 10 ngày tuổi trở lên. Để gây màu nước, bà con có thể bón phân chuồng hoai mục hoặc phân vô cơ với liều lượng phù hợp nhằm tạo môi trường cho phiêu sinh phát triển.
Phiêu sinh và tảo có hàm lượng đạm dao động 30 – 50%, dễ tiêu hóa nên rất tốt cho giai đoạn cá nhỏ. Trùn chỉ có đạm 55 – 60%, giúp cá tăng trọng nhanh ở giai đoạn cá hương. Bobo và Moina chứa nhiều vitamin và axit béo giúp cá khỏe, ít bị bệnh đường ruột.
Ao ương nhiều tảo, phiêu sinh và Moina sẽ giảm 30 – 50% chi phí thức ăn công nghiệp. Bà con có thể duy trì màu nước xanh nõn chuối, độ trong 25 – 35 cm để giữ nguồn thức ăn tự nhiên ổn định. Khi nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào, chỉ cần bổ sung thêm thức ăn viên với liều lượng nhỏ để cá tăng trưởng đồng đều.
Thức ăn công nghiệp cho cá rô phi giống nên có hàm lượng đạm 35 – 45%, bổ sung enzyme tiêu hóa và vitamin C để tăng sức đề kháng. Chọn thức ăn hạt mịn cho cá 7 – 14 ngày tuổi, dạng mảnh nhỏ hoặc pellet 0.8 – 1.2 mm cho cá 21 – 30 ngày.
Pellet nổi giúp quan sát lượng ăn và hạn chế ô nhiễm nước, thích hợp cho cá từ 2 tuần tuổi trở lên. Pellet chìm dễ tiêu hóa hơn nhưng khó kiểm soát lượng ăn, thích hợp khi nuôi trong ao có sàn ăn. Với giai đoạn giống, pellet nổi thường được ưu tiên để theo dõi khẩu phần.
Nên tập cho cá ăn bằng cách trộn thức ăn công nghiệp với Moina hoặc trùn chỉ để tạo mùi quen thuộc. Giảm dần lượng thức ăn tự nhiên sau 3 – 5 ngày. Tránh chuyển đổi đột ngột vì cá dễ bỏ ăn hoặc tiêu hóa kém. Cho ăn lượng nhỏ nhưng nhiều lần để cá làm quen.
Nhiệt độ tối ưu 28 – 32°C giúp cá ăn khỏe và hấp thu dinh dưỡng tốt. Oxy hòa tan phải trên 4 mg/l, nếu thấp cá sẽ giảm ăn và dễ mắc bệnh. Độ trong ao duy trì 25 – 35 cm giúp giữ ổn định nguồn thức ăn tự nhiên. Nước dơ, nhiều khí độc sẽ khiến cá bỏ ăn hoặc lờ đờ.
Mật độ quá dày khiến cá cạnh tranh thức ăn, dẫn đến không đồng đều kích cỡ. Mật độ thích hợp 50 – 80 con/m² đối với ao ương và 200 – 300 con/m² đối với bể xi măng hoặc lót bạt. Khi mật độ cao, cần tăng cường oxy và bổ sung thêm thức ăn để tránh cá còi.
Để ao luôn giàu thức ăn tự nhiên, bà con cần bón phân định kỳ, giữ màu nước ổn định, hạn chế thay nước quá nhanh. Nên sục khí vào ban đêm để tránh hiện tượng tảo tàn gây hao hụt cá. Nếu màu nước nhạt, cần bổ sung phân vô cơ liều nhẹ để gây lại phiêu sinh.
Lượng ăn điều chỉnh theo quan sát, tránh dư thừa làm ô nhiễm ao ương.
Bà con có thể phối 40% bột cá, 20% bột đậu nành, 20% cám gạo, 10% bột ngô và 10% premix vitamin – khoáng. Hỗn hợp được xay mịn, vo thành hạt nhỏ phù hợp với kích thước miệng cá. Công thức này giúp giảm chi phí mà vẫn đảm bảo cá tăng trưởng tốt.
Vitamin C, khoáng Ca – P và men tiêu hóa giúp cá khỏe ruột, tăng đề kháng và hấp thu dinh dưỡng tốt hơn. Chỉ trộn lượng nhỏ, tránh lạm dụng gây lãng phí hoặc làm cá bị tiêu chảy. Bổ sung 2 – 3 lần/tuần là phù hợp với giai đoạn cá giống.
Việc nắm rõ cá rô phi thích ăn gì nhất trong từng giai đoạn từ cá bột đến cá giống giúp người nuôi chủ động hơn trong xây dựng khẩu phần và quản lý ao ương. Kết hợp thức ăn tự nhiên và thức ăn công nghiệp đúng kỹ thuật sẽ giúp cá tăng trưởng nhanh, khỏe mạnh và đồng đều kích cỡ. Khi duy trì chất lượng nước tốt và điều chỉnh khẩu phần phù hợp, bà con sẽ đạt được tỷ lệ sống cao, giảm chi phí và nâng hiệu quả ương giống.